Tưởng nhớ Nils Liedholm một huyền thoại


Nils Liedholm sinh ngày 8 tháng 10 năm 1922 tại Valdemarsvik, Thụy Điển. Từ 1942 đến 1949, ông đã thi đấu bảy năm cho giải VDQG Thuỵ Điển dưới màu áo của IK Sleipner và IFK Norrköping . Từ 1949, ông chuyển đến Milan và thi đấu tại đây trong 12 mùa bóng cho đến năm 1961, ghi 81 bàn trong 359 lần ra sân. Dưới màu áo Đỏ-Đen, ông đã dành được 4 Scudetto và 2 cúp Quốc Gia. Tại đội tuyển QG Thuỵ Điển, ông dành được huy chương vàng thế vận hội Olympic năm 1948 và huy chương bạc World Cup năm 1958



 Năm 1963, ông là HLV của một số câu lạc bộ của Serie A như AC Milan, AS Roma, AC Fiorentina. Dưới cương vị HLV, ông đã dành được 2 Scudetto với Milan (1979) và Roma (1983), 3 cúp Quốc Gia Italy với Roma (1980, 1981, 1984). Ông cũng dẫn dắt thành công AS Roma vào đến trận chung kết Champion League năm 1984 và chỉ chịu thua nhà vô địch năm đó, Liverpool. 

Sự nghiệp cầu thủ của Nils Liedholm được biết đến nhiều nhất trong khoảng thời gian thi đấu tại AC Milan. Cùng với 2 người đồng hương Gunnar Gren và Gunnar Nordahl, bộ ba huyền thoại với biệt danh "Gre - No - Li", đã góp phần rất lớn đóng góp cho câu lạc bộ dành được những thành tích trên cả đấu trường trong nước và châu lục. 

Và ngày hôm qua, 05/11/2007, ông đã ra đi trong sự tiếc nuối của gia đình và những người thân tại Cuccaro, một ngôi làng nhỏ của Italy, hưởng thọ 85 tuổi. Lễ tang của ông được cử hành vào thứ 5, tại Cuccaro.

Phát biểu của một số thành viên AC Milan : 
Berlusconi : Một con người vĩ đại trong lịch sử Milan đã rời bỏ chúng ta: một nhà vô địch, một người phong nhã, một người bạn. Tôi nhớ đến những thành tích của ông không một sai sót. Cảm ơn Nils, vì tất cả những gì ông đã làm cho chúng ta.
Adriano Galliani: Với Liedholm, một phần lớn của lịch sử CLB đã rời xa chúng ta. Tối nay, Milan sẽ thi đấu với tấm băng đen trên tay để tưởng nhớ tới người đàn ông vĩ đại của bóng đá.
Carlo Ancelotti: Với tôi, ông là một người thầy vĩ đại và tôi chắc chắn đã không thể tìm được một người thầy tốt hơn để bắt đầu sự nghiệp của mình.
Falcao ( cựu tuyển thủ Brazil, người đã từng thi đấu dưới sự dẫn dắt của Liedholm tại AS Roma): Những người như Li đáng ra phải sống mãi. Ông giống như một người cha của tôi. Ông biết cách yêu thương người khác với sự hòa hiệp của mình. Ông đã dạy tôi rất nhiều điều.

Cẩn thận khi chạy gần xe tải


Khi lái ô tô trên xa lộ, bạn đừng bao giờ hy vọng là các tài xế xe tải sẽ nhìn thấy bạn rất rõ. Nhiều xe tải lắp kính chiếu hậu mặt lồi làm méo mó khoảng cách. Cũng vì vậy, rất khó xác định cự ly xe bạn ở phía sau.
Ngoài ra, động cơ xe tải còn làm rung kính chiếu hậu khiến tài xế không thể nhìn rõ phía sau. Nơi mà bạn chạy xe nguy hiểm nhất là bên cạnh xe tải, đặt biệt gần bọng vè bánh trước.
         
Chạy xe ban đêm cần hết sức cảnh giác xe tải.
Nếu tài xế xe tải thay đổi luồng lưu thông đột ngột, xe bạn có thể bị ép lọt xuống hố hoặc bị các bánh xe tải cán lên. Nếu xe bạn lỡ chạy dọc theo một xe tải nặng với rơ-moóc 18 bánh, bạn cần phải tăng tốc vượt qua xe tải ngay hoặc cho xe chạy xa phía sau xe tải.
Ban ngày, bạn thử tìm kiếm hình bóng của tài xế trong kính chiếu hậu xe tải phía trước. Nếu bạn có thể nhìn thấy tài xế trong kính chiếu hậu, tài xế cũng có thể thấy bạn ở phía sau.
Bạn cần phải hết sức cẩn thận khi chạy xe phía bên phải của bất cứ xe tải nào. Trên đường trường, các tài xế xe tải đều muốn giữ phía bên phải của họ luôn trống, vừa để dễ dàng rẽ vào các lối ra sắp tới, và nếu cần, để rời khỏi đường giao thông nhanh chóng.
Trong tình huống hệ thống thắng hơi gặp sự cố khiến các thắng mất tác dụng nghiêm trọng, các tài xế xe tải chỉ cần vài giây để rời khỏi làn đường trước khi các bánh xe khóa chặt lại và chiếc xe tải dừng hẳn giữa đường.
Trong thành phố, các xe tải thường lái ngoắt sang bên trái để rẽ hướng bên phải; nếu không thì rơ-moóc sẽ leo lên lề. Trước khi bạn cho xe vượt qua phía bên phải một xe tải với rơ-moóc 18 bánh đang chạy ở làn đường bên trái và bật đèn báo hiệu xin rẽ phải, bạn cần cảnh giác đề phòng tai nạn có thể xảy ra.
Khi đèn báo hiệu rẽ hướng của xe tải cho thấy tài xế muốn đi vào làn đường của bạn-đặc biệt bên phải, bạn hãy nhường đường ngay. Vượt qua một xe tải và trở vô làn đường nhanh quá có thể gây tai nạn.
Do đó, khi bạn vượt qua một xe tải, hãy cho xe chạy một đoạn khá xa trước khi trở vào làn đường. Tốt hơn là bạn chờ tới khi nhìn thấy rõ các đèn pha của xe tải trong kính chiếu hậu.
Nếu bạn nhìn thấy rõ mặt nạ lưới sắt to lớn của xe tải trong kính chiếu hậu và làn đường bên trái trống, hãy tấp qua bên trái và để xe tải vượt qua bên phải. Thỉnh thoảng quan sát kính chiếu hậu và nếu thấy một chiếc xe tải chạy nhanh đến gần phía sau mà không bật đèn báo hiệu rẽ hướng, bạn nên nhường đường ngay.

BƯỚC QUA LỜI NGUYỀN

Có lẽ trong lịch sử bóng đá thế giới, hiếm có trường hợp nào éo le như Messi. 

Anh là cầu thủ xuất sắc nhất thế giới hiện nay, đoạt giải Quả bóng vàng hai năm liên tiếp (2009, 2010), và nhiều khả năng cuối năm nay anh tiếp tục nhận Quả bóng vàng thứ ba sau những màn trình diễn tuyệt vời suốt mùa bóng vừa qua trong màu áo Barcelona. Nếu vậy, anh sẽ là cầu thủ thứ hai nhận Quả bóng vàng ba năm liên tục, sau danh thủ Platini (1983,1984,1985). Johan Cruyff (1971,1973, 1974) Marco van Basten (1988, 1989, 1992) cũng từng đoạt 3 Quả bóng vàng nhưng bị ngắt quãng. 

Đọat 3 Quả bóng vàng liên tiếp, Messi sẽ sánh ngang kỷ lục của Platini, nhưng danh hiệu Quả bóng vàng trong thời điểm hiện tại rõ ràng có giá trị cao hơn danh hiệu Quả bóng vàng ở thập niên 80 thế kỷ trước. Thời Platini còn chơi bóng, ông có một đối thủ đáng sợ là Maradona. Cả hai có thời gian cùng chơi ở giải Ý: Platini chơi cho Juventus, Maradona khoác áo Napoli. Đó là chưa kể những đối thủ sừng sỏ khác như Zico, Falcao, Socrates của Brazil. Nhưng trong giai đoạn đó, Quả bóng vàng châu Âu chỉ trao cho những cầu thủ châu Âu, không xét đến các cầu thủ Nam Mỹ và các châu lục khác dù họ vẫn chơi bóng cho các câu lạc bộ của lục địa già. Nếu giải thưởng Quả bóng vàng được mở rộng ra như hiện nay, tức là không hạn chế quốc tịch, chắc chắn Platini không thể nào đoạt giải thưởng cao quý này 3 năm liên tục. (Bắt đầu từ năm 1995, giải thưởng Quả bóng vàng được cải tiến theo hướng mở rộng và ngay lập tức danh hiệu đó thuộc về George Weah, cầu thủ Liberia đang khoác áo AC Milan. Nếu chỉ xét các cầu thủ quốc tịch châu Âu như thời Platini, Quả bóng vàng 1995 sẽ thuộc về tiền đạo người Đức Jurgen Klinsmann, người về nhì trong cuộc bầu chọn).

Nếu chúng ta thừa nhận rằng hầu hết các ngôi sao bóng đá thế giới đều chơi bóng ở châu Âu thì cầu thủ đoạt Quả bóng vàng châu Âu hiện nay là cũng là cầu thủ xuất sắc nhất thế giới (Thời Platini, thực tế ông chỉ là cầu thủ xuất sắc nhất châu Âu. So sánh tầm vóc giữa Platini và cầu thủ cùng thời Maradona thì rõ!). Quan điểm này càng được củng cố về phương diện pháp lý khi bắt đầu từ năm 2010 hai giải thưởng danh giá Quả bóng vàng Châu Âu và Cầu thủ xuất sắc nhất năm của FIFA đã được hợp nhất thành Quả bóng vàng FIFA và dĩ nhiên cầu thủ đầu tiên nhận danh hiệu “tầm cỡ thế giới” này là Lionel Messi. 

 Danh hiệu là chuyện nói thêm vào, như kiểu dùng chứng cứ củng cố cho lập luận, chứ thực ra không cần những con số thống kê, chỉ quan sát bằng nhãn quan của “người phàm mắt thịt” thôi, bất cứ tín đồ bóng đá nào cũng dễ dàng nhận thấy Lionel Messi là cầu thủ xuất sắc nhất hiện nay, là cầu thủ chơi bóng ma thuật nhất, được chờ đợi nhất và được yêu mến nhất, trừ... dân Argentina.

Tình cảnh oái oăm này xuất phát từ chỗ thiên tài người Argentina này chưa bao giờ giúp đội tuyển quốc gia của anh giành được một danh hiệu lớn nào, ngoài vài danh hiệu “be bé” như vô địch thế giới lứa tuổi U-20 (2005) và vô địch giải bóng đá Olympic (2008). Tất nhiên, trên thế giới có không ít cầu thủ chơi rất hay trong màu áo câu lạc bộ nhưng khi về khoác áo đội tuyển quốc gia lại thi đấu không hiệu quả. Cristiano Ronaldo của tuyển Bồ Đào Nha là một ví dụ sống động cho trường hợp này.

Nhưng Ronaldo không bị dân Bồ phê phán dữ dội như dân Argentina lên án Messi. Thậm chí có cổ động viên cực đoan còn xông vào hành hung Messi khi anh về Argentina chuẩn bị cho cúp Nam Mỹ 2011. Thăm dò ý kiến dân Argentina, tình cảm người hâm mộ quê nhà dành cho Messi rất thấp, thậm chí số phiếu của anh còn kém một vài... trọng tài.

 Có nhiều lý do cắt nghĩa cho thái độ quá khích này. Khác với Bồ Đào Nha, Argentina là một cường quốc bóng đá, đã hai lần vô địch thế giới. Cùng với Brazil, họ là một trong hai “ông trùm” bóng đá Nam Mỹ và luôn luôn kèn cựa, so đo với người láng giềng hùng mạnh của mình.Về phương diện cá nhân, nếu Brazil tự hào với Pele thì người Argentina hãnh diện với Maradona - thánh sống của họ. Nhưng so thành tích đội tuyển thì họ bị Brazil bỏ quá xa khi đội tuyển vàng xanh đã vô địch thế giới tới 5 lần. Để thu ngắn khoảng cách này, bây giờ họ chỉ biết trông chờ vào Messi nhưng anh lại chưa thể giúp đất nước mình lên ngôi một lần nào. Các nhà chuyên môn đều thấy lỗi không nằm ở Messi: hệ thống chiến thuật của Barcelona và Argentina quá khác nhau khiến tài năng của anh không thể phát huy đến mức cao nhất khi chơi cho đội tuyển. Chưa kể phương diện con người: đồng đội của anh ở đội tuyển cũng không có những cá nhân kiệt xuất như Xavi hay Iniesta.

Nhưng dân Argentina không đếm xỉa đến thực tế đó. Thất vọng dẫn đến bực tức, người ta quy kết anh chỉ dốc sức phục vụ cho Barcelona mà không hết lòng phụng sự đội tuyển. Rằng anh không coi danh dự quốc gia ra gì, chỉ chăm chăm đá bóng vì tiền, vân vân và vân vân. Người ta lôi lý lịch anh ra: Mười ba tuổi đã chuyển cả gia đình sang sống ở Tây Ban Nha với sự bảo trợ của câu lạc bộ Barcelona. Vin vào cớ đó, người ta bảo dòng máu Argentina trong anh đã nhạt, bây giờ anh là người Tây Ban Nha mất rồi(!) . Khi chì chiết Messi như vậy, người ta quên rằng anh gặp vấn đề với hormone tăng trưởng vào năm 10 tuổi và lúc đó không một câu lạc bộ nào ở Argentina chịu bỏ kinh phí chữa trị cho anh, cho đến khi Barcelona ngỏ lời. Và thực tế thì nếu không có Barcelona thì đã không có Messi như ngày nay.



"Làm sao đây?"

 Nhưng bây giờ không phải là lúc ngồi nói lý, nhất là nói lý với đám đông. Để rửa nỗi oan cho mình, để bước qua lời nguyền của số phận, Messi phải bằng mọi giá đưa đội tuyển Argentina ít ra là đến chức vô địch Nam Mỹ 2011 được tổ chức trên sân nhà. Chỉ có cách đó anh mới “bịt miệng” được những kẻ chỉ trích mình.

7 STEPS LEARNING ENGLISH

There're lots of ways & method help people learning English or language on the world, this topic will always make professional English research nonstop. For me there is 7 basic steps to learn English that people can study by themself.
Imazing you are in the restaurant and you have to follow these steps :


Step 1 : Read the menupeople should practice reading skill when you have the menu or the other can read. this is reading skill.    

Step 2 : Oder a meal and ask the waiter or waitress advicewith this step people will improve speaking skill.
Step 3 : Understand waiter advicefor example when a waiter says : would you like small or medium size ? and you have to answer. It's  helpful for your listening.

Step 4 : Understand friend and waiter chattingthis step want you try to listen whatever your friend and the waiter talking when you are in the restaurant

Step 5 : Chat with waiter or waitress in simple topicsimple topic can be : weather, movies, food, .....people have enough confident  when talking with the waiter  

MALDINI HẬU VỆ XUẤT SẮC MỌI THỜI ĐẠI


Huy chương và cup


Tôi không phải là một người chỉ đánh giá các cầu thủ bởi những gì anh ta dành được. Nhiều cầu thủ trung bình nhưng có mọi danh hiệu.
Một ví dụ là Christian Karembeu, người vô địch World Cup và Euro cùng Pháp cũng như vô địch Champions League cùng Real Madrid. Trong khi đó, một số ngôi sao rực rỡ lại bỏ lỡ một đó danh hiệu lớn nhất, nhưng trường hợp của Roberto Baggio.
Dù vậy, những phần thưởng cùng đội bóng vẫn là một tiêu chí quan trọng để đánh giá, và trong sự nghiệp lừng lẫy của mình, Maldini dành 7 Scudetto, 1 Coppa Italy, 5 Italian Super Cups, 5 danh hiệu Champions League titles, 5 European Super Cups và 3 World Club Cups.
Về giải thưởng cá nhân, đáng tiếc là Maldini chưa từng dành danh hiệu Quả bóng vàng châu Âu hay Cầu thủ xuất sắc nhất thế giới. Tuy nhiên căn cứ vào cái cách bầu chọn của hai giải thưởng này, điều đó cũng không quá ngạc nhiên.
Trong số rất nhiều kỉ lục Maldini đã tạo lập với Milan, anh là người thi đấu nhiều nhất cho họ và cũng là cầu thủ nhiều tuổi nhất từng ghi bàn ở một trận chung kết.

Sự nghiệp quốc tế
Một vài cầu thủ thi đấu rất tốt ở CLB nhưng vì một vài lí do, họ không thể gặt hái thành công ở cấp độ đội tuyển. Hai cái tên tôi nghĩ đến ngay là Gianni Rivera và Alessandro Del Piero.
Maldini thì khác, anh thi đấu tốt cho cả Italy và Milan. Anh là người đep băng đội trưởng lâu nhất, ra sân nhiều nhất. Hậu vệ này đã chơi 4 World Cup và 3 Euro. Cho dù may mắn luôn lẩn tránh anh, khi anh hai lần thua cuộc ở hai trận chung kết lớn, World cup 94 trước Brazil và trận thua xót xa tại Euro 2000 trước Pháp. Nếu chiến thắng trong cả hai trận đấu đó, chắc chắn, anh sẽ có một sự nghiệp vô cùng hoàn hảo.
Có lẽ một chi tiết nhỏ hơn trong 14 năm thi đấu cho Italy cũng đủ để tạo ra sự khác biệt của anh. Maldini ra mắt cho Azzurri khi vẫn còn là một cậu bé, một điều cực hiếm ở Italy, khi các cầu thủ thường không có cơ hội cho đến khi họ 25, 26 tuổi.
Khi mới 19 tuổi, anh là một phát hiện ở Euro 88, và không thể phủ nhận anh chính là hậu vệ cánh xuất sắc nhất giải đó. Anh bắt chết ngôi sao Michel của Tây Ban Nha trong trận đấu ở nhóm thứ hai, một kỉ niệm đáng nhớ. Anh có tên trong đội hình của UEFA trong 3 kì Euro, 88, 96, 2000.
Roberto Baggio vẫn được tin là đã đơn thương độc mã đưa Italy đến chung kết USA 94. Có lẽ đó là một khẳng định hợp lí, nhưng cũng cần phải nhớ Maldini đã chỉ huy hàng phòng ngự như thế nào khi huyền thoại Franco Baresi vắng mặt 4 trận vì chấn thương.
Sự nghiệp của Maldini là một giai thoại. Thật thú vị khi biết rằng anh nâng chiếc cup Champions League tại Old Trafford năm 2003, 40 năm sau khi cha anh làm điều tương tự cho Milan tại Wembley.

Một sự nghiệp lâu dài

Một thước đo nữa về sự xuất sắc đối với một cầu thủ bóng đá là thời gain họ chơi bóng đỉnh cao.
Một vài cầu thủ chơi tuyệt vời trong một vài mùa giải nhưng ở các mùa giải khác, họ không còn là chính mình. Đó chính là sự khác biệt giữa những huyền thoại mọi thời đại với những cầu thủ trên, họ có thể giữ phong độ đỉnh cao không chỉ 3 hay 5 năm, mà từ 7 đến 10 năm.
Maldini còn hơn thế. Từ khi chơi bóng cho Milan vào tháng 1 năm 1985, anh đã chơi bóng đỉnh cao ở châu Âu gần một phần tư thế kỉ. Nếu điều đó không đáng nhớ, thì trong suốt thời gian đó, anh luôn luôn giữ vững được đẳng cấp phi thường của mình. Ở tuổi gần 40, anh vẫn là cầu thủ xuất sắc nhất trận đấu lượt đi của Milan tại Champions League gặp Arsenal. Trong trận lượt về tại San Siro, anh là một trong số ít các cầu thủ của Milan chơi tốt. Sau trận đấu, tiền đạo Emmanuel Adebayor cho rằng Maldini vẫn ở đẳng cấp thế giới.
Về điểm này, nó là của riêng Maldini. Có lẽ sẽ không có một cầu thủ nào có thể kéo dài sự nghiệp của mình ở đẳng cấp như vậy. Lotthar Matthaus là người gần nhất làm được điều tương tự.
Maldini đã trải qua 3 giai đoạn hưng thịnh của Milan trong các thập kỉ khác nhau. Milan của Arrigo Sacchi cuối những năm 1980, Milan của Fabio Capello nửa đầu thập kỉ 90 và cuối cùng là đội bóng của Carlo Ancelotti, đội bóng đã quá thành công tại Champions League từ 2003. Đế chế đỏ đen dưới thời Sacchi bao gồm bộ ba Hà Lan, Van Basten, Rijkaard và Gullit được xem như đội bóng cấp câu lạc bộ xuất sắc nhất mọi thời đại. Và Mauro Tassotti, Alessandro Costacurta, Baresi, Maldini được cho là bộ tứ vệ xuất sắc nhất.

Một con người tuyệt vời cả trong và ngoài sân cỏ.

Các bạn có lẽ cho rằng các hậu vệ Italy không fair-play. Milan có thể luôn luôn sản sinh ra những hậu vệ xuất sắc trên thế giới nhưng nhiều người thường chơi rắn trong các trận đấu.
Tất nhiên, đó là một khía cạnh quan trọng trong nghệ thuật phòng ngự, mặc dù không phải tất cả các nên văn hóa đặc biệt và Anh Quốc và Bắc Âu đánh giá cao điều đó. Maldini trở thành cầu thủ xuất sắc nhất với những gì anh đã làm mà không hề dùng những tiểu xảo bẩn thỉu, và với lí do này, anh được yêu mến ở mọi nơi.
Không thể tìm được một người ở bất cứ nơi nào trên thế giới chỉ trích Maldini, dù chỉ một lời. Anh nhận được sự tôn trọng ở mọi nơi anh đến và được cả những cđv đối thủ yêu mến. Khi Maldini tới để thực hiện pha ném biên trong trận lượt đi tại Champions League, bạn không thể thấy bất cứ một fan của Arsenal nào nhạo báng, la ó anh. Điều trái ngược xảy ra chỉ vài phút sau đó, khi Massimo Ambrosini ra lấy bóng.
Mặc dù thực sự là một siêu sao, Maldini luôn giữ được sự khiêm tốn. Anh là cầu thủ xuất sắc nhất với những gì anh làm nhưng không thích hào nhoáng, sự lăng xê, anh không bộc lộ với quần chúng tài năng của mình. Anh là nhà vô địch trong và ngoài sân cỏ.
Maldini từng nói:
"Cha tôi truyền cho tôi biết cách cư sử đúng mực trong và ngoài sân cỏ."
Vào thời buổi, những cầu thủ trung thành với một clb ngày càng hiếm hoi, Maldini đã cống hiến trọng sự nghiệp cầu thủ cho Milan, trong nhiều năm là một đội trưởng mẫu mực của Milan và cả Azzurri nữa.
Đơn giản, anh là hậu vệ hoàn hảo. Cựu đồng đội, Ray Wikins từng phát biểu: "Anh ta có thể chơi ở bất kì vị trí nào."
"Ngay khi tôi thấy anh, tôi nghĩ ràng, lạy chúa, cậu bé này có mọi thứ. Anh ta mới 16 tuổi, cao 6ft1in, nhanh và mạnh mẽ, thuận cả hai chân. Và anh ta có tình yêu với bóng đá, điều mà mọi người vẫn có thể thấy vào lúc này. Anh là một đội trưởng hoàn hảo, một con người tuyệt vời cũng như là một cầu thủ phi thường."
Có nhiều hậu vệ xuất sắc trong quá khứ, nhiều người xứng đáng được gọi là huyền thoại, bao gồm Franco Baresi, Giacinto Facchetti, Gateano Scirea, Franz Beckenbauer, Paul Breitner, Nilton Santos, Djalma Santos và Bobby Moore.
Lẽ tất nhiên, Maldini nằm trong số đó. Câu hỏi duy nhất là anh có phải là người xuất sắc nhất hay không mà thôi.

Demetrio Albertini : Signore của hàng tiền vệ

Demetrio Albertini đã trở thành một VIP trong hàng tiền vệ của Milan từ lâu rồi. Và từ 10 năm nay, các Milanista biết đến anh như một thủ lĩnh của đội bóng bởi sự cần cù, chăm chỉ, lối chơi rất tinh tế nhưng uyển chuyển như một quý ông và khi cần thì cũng hung dữ, lanh lợi như một con sói. "Tôi không thích được coi là một người quan trọng bởi cả đội bóng mới thực sự là một ngôi sao", trước những lời khen ngợi tới tấp, 10 năm qua, bao giờ Albertini cũng chống chế một cách yếu ớt như thế. Tôi nghĩ rằng mình thực sự cần thiết cho đội bóng và tôi chỉ làm những gì thực sự thiết thực. Nhưng tất cả các HLV trong những năm qua của Milan cũng như của Squadra Azzurra không bao giờ nghĩ thế. Chưa bao giờ anh bị gạt ra trong số những kế hoạch dài hạn của họ. Và họ biết họ cần điều gì nơi anh...


10 năm trước, Demetrio mới trở về Milan sau một hành trình dài ở Padova, CLB đang chơi ở Serie A đã mượn anh chơi trong suốt hai mùa giải và HLV Sacchi đáng kính không bao giờ rời mắt khỏi anh. "Ban đầu rất nhiều thành viên ban lãnh đạo không muốn tôi trở về. Họ cho rằng tôi còn quá trẻ để thay thế cho vai trò của Ancelotti. Nhưng Arrigo đã bảo vệ được quan điểm của mình và tôi rất biết ơn ông ấy vì những gì ông đã giành cho tôi". Trận đấu đầu tiên của anh trong màu áo sọc đỏ-đen là một thành công ngoài dự kiến. Đó là trận đấu với Ascoli tháng 9 năm 1991”, Sacchi sau này nhớ lại: "Cậu ta gần như phát ngất khi khi bước ra khỏi đường hầm nhưng đã lấy lại được sự bình tĩnh và chơi một trận không thể tưởng tượng được ở tuổi 20. Thật khó tin. Cậu ta là một trong số những người chơi hay nhất và các CĐV ở San Siro còn bắt cậu ta phải ra chào khi trận đấu đã kết thúc". Sacchi không có nhiều cơ hội để được xem đệ tử của mình tung hoành trong màu áo Milan nữa bởi ông đã ra đi trước khi Albertini được chấp thuận trở lại đây, nhưng ông luôn luôn nhận ra khả năng cầm trịch và đạo diễn trận đấu tài tình của cậu bé và ngay lập tức cho Demetrio khoác chiếc áo màu xanh của đội tuyển trong trận Italia-Síp vào năm 1992. Và sự ưu ái của ông đối với anh không phải là không có lý. Chua bao giờ anh làm mọi người thất vọng bởi khả năng của mình. Tôi rất thích phong cách của Ancelotti (lúc này là HLV ở Juventus). Đấy là người có ảnh hưởng lớn nhất lên phong cách của tôi sau này. Thực tế, chính Ancelotti là người sản sinh ra trường phái tiền vệ phòng ngự nổi tiếng mang tên ông và Albertini là người học trò tinh tế nhất.



Sự thăng tiến chóng mặt của Albertini đã gây ra biết bao phiền toái. Đội tuyển U21 nhất định không cho anh lên đội tuyển A vì họ cần anh cho một vài cuộc chinh phục nữa, và viện cớ là anh còn quá trẻ để thi đấu ở đội tuyển. Ông HLV của đội tuyển quân đội còn độc chiêu hơn. Ông phát đơn kiện Sacchi vì cho rằng, ông này đã làm mọi cách để Albertini được miễn nghĩa vụ quân sự và vì thế không có mặt ở đội tuyển quân đội. Chính phủ phải vào cuộc và bảo vệ quyết định của Sacchi. Đây là một trường hợp độc nhất vô nhị trong bóng đá Italia. Và vì những tấm lòng như thế, Albertini quyết tâm vươn lên không ngừng. Trong 10 năm qua, anh là nhân vật không thể thiếu được ở cả CLB và ĐTQG và những sự vắng mặt cũng như sa sút của anh đều trực tiếp ảnh hưởng không nhỏ đến đội bóng và những chấn thương hay đau ốm của anh luôn được các cổ động viên cầu cho chóng qua. Đã có những thời điểm anh xuống phong đội chưa từng thấy, thậm chí bị gạt khỏi đội hình chính thức của CLB và ĐTQG. "Tôi luôn ngẫm nghĩ đến những thất bại mình đã trải qua, đến những gì ở phía trước và tôi không không bao giờ chịu đầu hàng trước hoàn cảnh nào", anh tâm sự. Anh đã trở lại chói sáng ở EURO 2000 như đã từn thể hiện một năm trước đây đoạt Scudetto với Milan. Con đường sự nghiệp của anh vẫn còn dài lắm và Milan vẫn trông chờ vào tài năng của tiền vệ lão luyện này. "Tôi chưa bao giờ nghĩ đến chuyện rời Milan đi bất cứ đâu. Đây là gia đình tôi, mái ấm của tôi và tôi muốn kết thúc sự nghiệp ở đây", anh nói. Như Baresi đã làm và như Maldini hứa sẽ thực hiện.

  • LÝ LỊCH ALBERTINI :
SINH NGÀY : 23-8-1971

1988–2002Milan

1990–1991→ Padova (loan)

2002–2003Atlético Madrid

2003–2004Lazio

2004Atalanta

2005  BARCA

Shevchenko – Chú sơn dương cô đơn tại San Siro


Năm 1999, bỏ lại sau lưng một mùa bóng đầy thành công ở Dynamo Kyiv, chàng trai trẻ Andriy Shevchenko đến với AC Milan với hợp đồng có giá trị lên đến 25 triệu đô la. Ở Milan khi ấy, Shevchenko như là chiếc phao cứu sinh cho những mùa giải thất bát liên tiếp. Không để người hâm mộ đợi lâu, bằng những bước chạy thần sầu và những cú sút hóc hiểm mang nhãn hiệu Shevchenko, ngay mùa giải đầu tiên mặc dù ACM không dành được danh hiệu Scudetto nhưng anh đã cho thấy mình xứng đáng với số tiền chuyển nhượng khổng lồ ấy bằng 1 danh hiệu vua phá lưới mùa giải 1999-2000 với 23 bàn thắng. Và từ đó biệt danh “Chú sơn dương” đã gắn liền với tên tuổi chàng tiền đạo người Ukrainia.


Thời gian cứ thấm thoát thoi đưa. Số phận rồi cũng mỉm cười với những con người biết kiên nhẫn chờ đợi; ACM với đôi chân chú sơn dương đã đi hết thắng lợi này đến thắng lợi khác. Sự nghiệp của Shevchenko đã nhanh chóng thăng tiến, người ta lại bắt đầu quên biệt danh chú sơn dương và gán những cái tên mỹ miều nhưng sáo rỗng khác “Sheva”, “Mr7”, “No7”, “Hoàng tử Phương Đông” cho chàng tiền đạo này. Mặc dù rất rất chuyên nghiệp nhưng Shevchenko cũng cảm thấy lâng lâng trong cuộc sống sặc mùi háo danh của bọn nhà báo và leng keng tiếng đồng lia của ngài Chủ tịch. Anh vẫn tập luyện và thi đấu tốt, nhưng thái độ trên sân và trong các cuộc họp báo đã khác, Milan bây giờ là Milan – Sheva.

Rồi cái hạnh phúc của đôi hôn phối Milan – Sheva ấy cũng đến lúc tan vỡ nó đánh dấu bằng 1 thất bại không thể tệ hơn của đoàn binh đỏ - đen ở Istabul. Sau Lễ trao giải Quả bóng vàng mùa bóng 2004 – 2005 anh đã ngỡ chiếc áo đấu đỏ đen đã không còn vừa với mình, mà trong cuộc sống người ta cứ thường ngỡ những việc mình không hiểu nhất. Anh bắt đầu mong muốn được ra đi để hòa mình vào dàn sao đang lên của Chelsea, để mong được gặt hái thêm nhiều chiến công nhằm tô điểm thêm bảng thành tích với dài dằng dặc của mình, để thỏa cái ước mơ được du nhập vào cuộc sống thượng lưu Anh của cô vợ và những đứa con. Ngày anh đi, San Siro bỗng trở nên mênh mông trống trãi, khán giả không còn đồng điệu khi gọi tên một ai đó để động viên đội bóng, sân tập thiếu vắng bước chân thoăng thoắng của chú sơn dương, các đồng đội hình như đã ít cười đùa hơn, Kaka bỗng thấy mình lạc lõng khi mất đi người đồng đội ăn ý trên sân đấu, Inzaghi phải di chuyển nhiều hơn để có được những bàn thắng. Người ta cuống cuồng tìm một số 7 nào đó để lấp vào khoảng trống mênh mông ấy nhưng vô vọng, sẽ mãi mãi không còn một số 7 nào có bước chân của sơn dương ở San Siro nũa. Berlusconi và AC Milan dù gặp nhiều khó khăn nhưng vẫn để anh ra đi như ước nguyện của chính anh và cầu mong anh thành công. Và người được mọi người trông đợi để gánh vác đội bóng khi đó là Kaka.

Dòng đời cứ trôi, ACM đã lặn ngụp trong vũng lầy “Calciopoli” rồi vươn đến đỉnh cao ở Athens với chiếc cúp CL năm 2007. Kaka cũng vậy, anh ấy đã ở lại ACM trong khốn khó bất chấp sự chèo khéo của các CLB lớn và vươn đến đỉnh cao bằng hattrick danh hiệu danh giá cầu thủ xuất sắc nhất năm 2007. Giờ đây ACM là ACM của Kaka. Shevchenko ở Chelsea thì sao? Anh đến Stamford Bridge trong sự mong mỏi lớn của ông chủ Abramovic nhưng đó lại không phải là chọn lựa của Ngài đặc biệt. Ở Chelsea về chuyên môn sẽ không có ai vượt được quyền của Mourinho, một tài năng thật sự ở băng ghế chỉ đạo. Anh trở thành rào cản rồi trở thành sự bất đồng lớn chia cách 2 cá tính lớn nhất Chelsea. Anh bị các đồng đội mới chỉ đích danh là lý do mà họ phải chia tay người huấn luyện viên tài ba của mình. Anh thẫn thờ trong mỗi lần ra sân vì cái cách mà đồng đội chuyền bóng cho mình, anh ít tiếng nhẫn nhịn trong sinh hoạt và tập luyện, anh cười gượng trong cay đắng khi J. Mourinho ra đi. Đã quá bất công đối với Chú sơn dương, anh ta đâu có lỗi gì trong việc Abramovic hâm mộ và đối xử quá hào phóng với anh ta. Shevchenko nhớ nhà, nhớ những tiếng reo hò của các Rossoneri trên khán đài, nhớ những đường chuyền bóng dọn cỗ của Kaka, nhớ phải di chuyển như thế nào khi Pirlo thực hiện quả đá phạt, nhớ Inzaghi ở đâu khi anh cầm bóng, nhớ cả từng ngọn cỏ trên sân San Siro, nhớ con đường hun hút toàn màu đỏ đen từ phòng kỹ thuật ra sân đấu San Siro. Shevchenko thèm được ôm những đồng đội chúc mừng sau mỗi bàn thắng (ngay cả trên sân tập), thèm được ngồi uống 1 ly bia và nói tiếng Ý (chứ không phải thứ tiếng Anh mà cô vợ anh đã từng hết lời tung hô) với những người bạn - những người mộ ACM ở quán bar nhỏ nào đó ở thành phố Milano, thèm được khoát lại chiếc ào màu đỏ đen với số 7 quen thuộc, anh thèm về nhà. Berlusconi cũng nhớ anh, ông ấy thèm được thấy chú sơn dương ngày nào dẫm nát từng sân đấu Serie A, ông ấy muốn chứng minh “Berlusconi không bao giờ phản bội lại tình cảm của ai”, ông ấy muốn khẳng định “ACM, nước Ý hay bất cứ thứ gì trong tay tôi sẽ chiến thắng. Tôi muốn là được”. Và ông đã dành rất nhiều công sức (có lẽ còn hơn cả công sức cho vụ chuyển nhượng Ronaldinho) để thuyết phục tỷ phú Nga để Shevchenko về nhà.

Mùa hè 2008, chú Sơn dương về nhà trong một bản hợp đồng được giữ kín ở thời điểm cuối cùng của mùa chuyển nhượng. Anh sẽ lại được khoát chiếc áo đỏ - đen một thời nhưng không phải là số 7 quen thuộc. Trong thâm tâm Shevchenko nghĩ “Mặc kệ, về nhà là tốt rồi”. Shevchenko háo hức được ra sân tập ngay khi đáp may bay xuống phi trường Milano, nhưng ACM đang thi đấu giao hữu mất rồi. Rồi cái ngày mong đợi cũng đã đến, Shevchenko dậy sớm và chuẩn bị thật hoàn hảo cho buổi tập đầu tiên của mình. Anh đến sân cùng với Kaladze (người bạn thủa thiếu thời) thì Maldini đã ở đó đón anh với cái ôm thật ấm áp, Ancelotti nở nụ cười thật tươi với cái bắt tay thật chặt nhưng đầy tính ngoại giao, anh mong đợi nhiều hơn như vậy, anh đợi Kaka đến để thấy nụ cười thiên thần của người em, anh đợi mọi người sẽ lại vừa thay đồ vừa vui vẻ chọc ghẹo nhau. Nhưng cái mong ước ấy đã không thành sự thật. Người ta đã quen với cuộc sống không có anh, Gattusso đã quen với việc đùa giỡn với Max và Pirlo trên sân tập, Seedorf và Kaka đã hiểu nhau đến từng bước chân trên sân đấu, Maldini bây giờ đã là người đàn ông của gia đình hơn trước nhiều, Costacota đã quen dần với các lớp học HLV chỉ có Kaladze là vẫn vậy, vẫn xoa đầu kéo anh dậy mỗi khi anh ngã. Shevchenko ngờ ngợ nhận ra Kaka giờ đã trưởng thành và gánh vác phần trách nhiệm của nhân vật số 1 tại San Siro rồi và cũng chiếm luôn vị trí người lĩnh lương cao nhất của anh để lại lúc trước. Shevchenko bây giờ mới thấy mình đã già đã quá nặng nề trong từng bước chạy, đã lãng phí cơ hội được bước vào thánh đường của những huyền thoại sống tại Milan. Anh cố gắng quen dần với cuộc sống ấy, một cuộc sống của một cầu thủ bình thường tại ACM. Anh cố gắng hòa nhập một cách thiện chí với các đồng đội trong mọi nơi mọi lúc (ở trên sân đấu, trong phòng thay đồ, trên băng ghế dự bị …), nhưng có lẽ cuộc sống quá tàn nhẫn. Với những lần hiếm hoi được vào sân từ băng ghế dự bị những bước chạy của chú sơn dương vẫn thanh thoát nhưng nó đã lỡ nhịp so với dòng chảy ACM. Kaka đã là ông chủ trên sân và được quyền bắt mọi người chơi theo cách của mình, Pato là một phong cách tiền đạo khác nên chơi quá xa anh, Gattusso và Max chỉ chăm chăm vào việc đánh chặn và chuyền bóng ngay cho Seedorf và Kaka, chỉ có Ronaldinho với bản tính hồn nhiên hoang dã của mình là chú ý đến những bước chân di chuyển khôn ngoan của chú sơn dương mà thôi. Biết làm sao bây giờ, đó là cuộc sống Shevchenko ạ dù gì thì anh cũng được về nhà rồi. Tôi có thể giận dữ vì những gì Kaka đối xử với một người hùng một thời như anh nhưng có bao nhiêu người nghĩ giống như tôi, rất ít. Tôi viết những dòng này để cầu mong anh, chú sơn dương Ukrainia của tôi, với bản lĩnh và ý chí sẽ vượt qua giai đoạn khó khăn này.

AC Milan và chức vô địch thứ 18 sau 7 năm đợi chờ

Vậy là sau 7 năm ròng rã, AC Milan đã trở lại vị thế mà hàng triệu NHM chờ đợi, đó là chức vô địch giải bóng đá cao nhất nước Ý – Serie A! Thành quả ấy là trái ngọt cho những hạt mầm đã được ươm, là chương cuối của sự khẳng định cho những chương đầu đầy hoài nghi, và là biết bao tiếng cười giòn tan của sự giải tỏa cho những lo lắng trong chặng đường dài đầy gian chuân.

Scudetto lần thứ 18 này không chỉ là sự tiếp nối của Scudetto lần thứ 17 đã giành được 7 năm về trước, mà còn mở ra 1 hy vọng mới, và có thể sẽ là 1 chu kỳ thành công mới cho những ai có chung dòng máu đỏ đen chảy trong người. Có lẽ đa phần người yêu Milan đều thấy, để giành được danh hiệu cao quý này, BLĐ Milan đã có những bước đi hợp lý về nhân sự, yếu tố quan trọng bậc nhất trong mọi đội bóng. Đầu mùa, nhờ những khó khăn trong việc thích nghi với các môi trường bóng đá Anh và Tây Ban Nha, những người đứng đầu của đội bóng Đỏ đen đã nhanh tay lấy về 2 ngôi sao của làng bóng đá, đó là Zlatan Ibrahimovic từ Barcelona và Robinho từ Manchester City. Trong những giờ phút cuối của thị trường chuyển nhượng mùa hè 2010, Milan đã làm sửng sốt làng túc cầu với 2 bản HĐ bom tấn nhưng giá cả lại chỉ bằng ½, thậm chí là 1/3 giá trị mà các CLB trên đã đưa họ về. Robinho là 1 tân binh mang lại sự mềm mại cho lối chơi, và thực tế anh cũng giúp cho hàng công thể hiện 1 sức sống mới nhờ kỹ thuật điêu luyện và sự chạy chỗ tinh tế. Nhưng đặc biệt phải nhắc đến vai trò của TĐ người Thụy Điển Ibrahimovic. Đến Milan với vị thế gần như kẻ bị ruồng bỏ, lại ra mắt Milan bằng trận thua Cesena mà chính anh đá hỏng 1 quả phạt đền, đã có không ít người lo lắng cho anh. Nhưng không phải ngẫu nhiên mà người ta gọi anh là “Mr Scudetto”. Kể từ lần phơi áo ngày 11/9 ấy, Zlatan đã trở lại hình ảnh 1 ngôi sao của bóng đá Italia như đã từng như thế trong màu áo Juve cũng như Inter. Ghi bàn nhiều nhất đội ( 14 bàn, bằng Robinho và Pato), mà không ít trong số đó là những kiệt tác, kiến tạo bàn thắng chẳng những nhiều nhất đội mà còn là nhiều nhất Serie A ( 11 lần), Zlatan như kim chỉ nam đưa đội bóng đến thành công. Thế nhưng để có được lần thứ 18 nâng chiếc cúp, anh cũng vẫn đứng sau vai trò của cả 1 tập thể đầy khát khao. Một Thiago Silva đầy mạnh mẽ, một Boateng đa năng và kỳ lạ, một Nesta vẫn giữ được nét hào hoa trong từng pha cản bóng, một Abbiati bay lượn như diễn viên trong những phim hành động hoành tráng nhất của Hollywood. 2 bản hợp đồng giữa mùa cũng là những thành công về chính sách chuyển nhượng của Milan. Van Bommel, đội trưởng tuyển Hà Lan, đội trưởng Hùm xám Bayern Munich bất ngờ đến Milan, và chơi hay cứ như thể muốn chứng tỏ anh chưa hết thời; Cassano cũng đóp góp 1 phần quan trọng cho CLB nhờ những đường kiến tạo sắc như dao của mình. Cũng không thể quên vai trò của những cựu binh như Seedorf, Ambrosini, Pirlo dù đóng góp của họ là khá hạn chế. 



Trong năm thứ 25 của triều đại Berlusconi, năm đầu tiên dưới sự dẫn dắt của Max Allegri, Milan đã mang lại niềm vui mà 7 năm qua đã dời xa NHM. Một chức vô địch của lòng khát khao mạnh liệt, của sự khiêm tốn, của những con người cùng chung chí hướng. Một danh hiệu đẹp, vô cùng đẹp. Đẹp như nụ cười “hom hem” của lão tướng Inzaghi, như những pha ghi bàn làm trào dâng bao xúc cảm của Ibra, và như điệu nhảy “Moonwalk” sành điệu của “Hoàng tử” Kevin… 

AC Milan, nỗi nhớ Albertosi


AC Milan, nỗi nhớ Albertosi

Sau thời Albertosi, Milan chẳng còn thủ môn nào từng được đứng trong khung gỗ Azzurri, chứ chưa nói là giữ vị trí chính thức ở cà đội tuyển lẫn CLB.
Đã lâu lắm rồi Milan không có một thủ môn vừa bắt chính trong màu áo CLB, vừa là người gác đền chính ở ĐT Italia. Thậm chí, cũng hiếm có một thủ môn chơi cho Milan  nhưng từng có quãng thời gian "đeo găng" Azzurri (dự bị cũng được).

Người gần nhất là Albertosi. Thủ thành  sinh năm 1939 này đầu quân cho Milan từ năm 1974-1980. Trong thời gian này, anh không một lần được phục vụ ĐTQG. Nhưng trước đó, Albertosi từng là người gác đền số 1 của ĐT Italia. Tại World Cup 1962, 1974, Albertosi có tên trong danh sách ĐT Italia nhưng chỉ ngồi dự bị. Tại EURO 1968, dù giành chức vô địch cùng Azzurri nhưng Albertosi cũng chỉ là lựa chọn thứ hai sau Dino Zoff.
Tuy nhiên, Albertosi là thủ thành số 1 của Italia ở World Cup 1970, giải đấu mà Italia giành ngôi Á quân sau khi thua Brazil trong trận chung kết. Màn trình diễn đáng nhớ nhất của Albertosi là trong trận bán kết thắng Đức 4-3 (trận đấu được đánh giá là hay nhất thế kỷ 20). Dù bị thủng lưới 3 bàn nhưng Albertosi vẫn được khen ngợi vì một loạt pha cứu thua xuất sắc.

Sau đó Milan chẳng còn thủ môn nào từng được bắt cho ĐTQG, chứ chưa dám nói đến giữ vị trí chính thức ở cả CLB lẫn đội tuyển.
Trong thời kỳ hoàng kim ở những năm đầu thập niên 90, thủ môn số 1 của Rossoneri là Sebastiano Rossi. Dù giành 5 Scudetto cùng Milan nhưng trong cả sự nghiệp, S.Rossi không một lần được khoác áo Thiên Thanh.
Từ đầu thiên niên kỷ mới, Dida bắt chính ở Milan, từng được đánh giá là thủ môn hàng đầu thế giới nhưng anh lại khoác áo ĐT Brazil.

Đến mùa trước, Abbiati là một trong những thủ thành bắt hay nhất ở Serie A nhưng anh chưa bao giờ được đánh giá cao ở cấp độ đội tuyển. Đã 34 tuổi, bây giờ Abbiati càng không còn cơ hội được trọng dụng ở Azzurri.

Saturday, August 13, 2011

Tưởng nhớ Nils Liedholm một huyền thoại


Nils Liedholm sinh ngày 8 tháng 10 năm 1922 tại Valdemarsvik, Thụy Điển. Từ 1942 đến 1949, ông đã thi đấu bảy năm cho giải VDQG Thuỵ Điển dưới màu áo của IK Sleipner và IFK Norrköping . Từ 1949, ông chuyển đến Milan và thi đấu tại đây trong 12 mùa bóng cho đến năm 1961, ghi 81 bàn trong 359 lần ra sân. Dưới màu áo Đỏ-Đen, ông đã dành được 4 Scudetto và 2 cúp Quốc Gia. Tại đội tuyển QG Thuỵ Điển, ông dành được huy chương vàng thế vận hội Olympic năm 1948 và huy chương bạc World Cup năm 1958



 Năm 1963, ông là HLV của một số câu lạc bộ của Serie A như AC Milan, AS Roma, AC Fiorentina. Dưới cương vị HLV, ông đã dành được 2 Scudetto với Milan (1979) và Roma (1983), 3 cúp Quốc Gia Italy với Roma (1980, 1981, 1984). Ông cũng dẫn dắt thành công AS Roma vào đến trận chung kết Champion League năm 1984 và chỉ chịu thua nhà vô địch năm đó, Liverpool. 

Sự nghiệp cầu thủ của Nils Liedholm được biết đến nhiều nhất trong khoảng thời gian thi đấu tại AC Milan. Cùng với 2 người đồng hương Gunnar Gren và Gunnar Nordahl, bộ ba huyền thoại với biệt danh "Gre - No - Li", đã góp phần rất lớn đóng góp cho câu lạc bộ dành được những thành tích trên cả đấu trường trong nước và châu lục. 

Và ngày hôm qua, 05/11/2007, ông đã ra đi trong sự tiếc nuối của gia đình và những người thân tại Cuccaro, một ngôi làng nhỏ của Italy, hưởng thọ 85 tuổi. Lễ tang của ông được cử hành vào thứ 5, tại Cuccaro.

Phát biểu của một số thành viên AC Milan : 
Berlusconi : Một con người vĩ đại trong lịch sử Milan đã rời bỏ chúng ta: một nhà vô địch, một người phong nhã, một người bạn. Tôi nhớ đến những thành tích của ông không một sai sót. Cảm ơn Nils, vì tất cả những gì ông đã làm cho chúng ta.
Adriano Galliani: Với Liedholm, một phần lớn của lịch sử CLB đã rời xa chúng ta. Tối nay, Milan sẽ thi đấu với tấm băng đen trên tay để tưởng nhớ tới người đàn ông vĩ đại của bóng đá.
Carlo Ancelotti: Với tôi, ông là một người thầy vĩ đại và tôi chắc chắn đã không thể tìm được một người thầy tốt hơn để bắt đầu sự nghiệp của mình.
Falcao ( cựu tuyển thủ Brazil, người đã từng thi đấu dưới sự dẫn dắt của Liedholm tại AS Roma): Những người như Li đáng ra phải sống mãi. Ông giống như một người cha của tôi. Ông biết cách yêu thương người khác với sự hòa hiệp của mình. Ông đã dạy tôi rất nhiều điều.

Friday, August 12, 2011

Cẩn thận khi chạy gần xe tải


Khi lái ô tô trên xa lộ, bạn đừng bao giờ hy vọng là các tài xế xe tải sẽ nhìn thấy bạn rất rõ. Nhiều xe tải lắp kính chiếu hậu mặt lồi làm méo mó khoảng cách. Cũng vì vậy, rất khó xác định cự ly xe bạn ở phía sau.
Ngoài ra, động cơ xe tải còn làm rung kính chiếu hậu khiến tài xế không thể nhìn rõ phía sau. Nơi mà bạn chạy xe nguy hiểm nhất là bên cạnh xe tải, đặt biệt gần bọng vè bánh trước.
         
Chạy xe ban đêm cần hết sức cảnh giác xe tải.
Nếu tài xế xe tải thay đổi luồng lưu thông đột ngột, xe bạn có thể bị ép lọt xuống hố hoặc bị các bánh xe tải cán lên. Nếu xe bạn lỡ chạy dọc theo một xe tải nặng với rơ-moóc 18 bánh, bạn cần phải tăng tốc vượt qua xe tải ngay hoặc cho xe chạy xa phía sau xe tải.
Ban ngày, bạn thử tìm kiếm hình bóng của tài xế trong kính chiếu hậu xe tải phía trước. Nếu bạn có thể nhìn thấy tài xế trong kính chiếu hậu, tài xế cũng có thể thấy bạn ở phía sau.
Bạn cần phải hết sức cẩn thận khi chạy xe phía bên phải của bất cứ xe tải nào. Trên đường trường, các tài xế xe tải đều muốn giữ phía bên phải của họ luôn trống, vừa để dễ dàng rẽ vào các lối ra sắp tới, và nếu cần, để rời khỏi đường giao thông nhanh chóng.
Trong tình huống hệ thống thắng hơi gặp sự cố khiến các thắng mất tác dụng nghiêm trọng, các tài xế xe tải chỉ cần vài giây để rời khỏi làn đường trước khi các bánh xe khóa chặt lại và chiếc xe tải dừng hẳn giữa đường.
Trong thành phố, các xe tải thường lái ngoắt sang bên trái để rẽ hướng bên phải; nếu không thì rơ-moóc sẽ leo lên lề. Trước khi bạn cho xe vượt qua phía bên phải một xe tải với rơ-moóc 18 bánh đang chạy ở làn đường bên trái và bật đèn báo hiệu xin rẽ phải, bạn cần cảnh giác đề phòng tai nạn có thể xảy ra.
Khi đèn báo hiệu rẽ hướng của xe tải cho thấy tài xế muốn đi vào làn đường của bạn-đặc biệt bên phải, bạn hãy nhường đường ngay. Vượt qua một xe tải và trở vô làn đường nhanh quá có thể gây tai nạn.
Do đó, khi bạn vượt qua một xe tải, hãy cho xe chạy một đoạn khá xa trước khi trở vào làn đường. Tốt hơn là bạn chờ tới khi nhìn thấy rõ các đèn pha của xe tải trong kính chiếu hậu.
Nếu bạn nhìn thấy rõ mặt nạ lưới sắt to lớn của xe tải trong kính chiếu hậu và làn đường bên trái trống, hãy tấp qua bên trái và để xe tải vượt qua bên phải. Thỉnh thoảng quan sát kính chiếu hậu và nếu thấy một chiếc xe tải chạy nhanh đến gần phía sau mà không bật đèn báo hiệu rẽ hướng, bạn nên nhường đường ngay.

Thursday, August 11, 2011

BƯỚC QUA LỜI NGUYỀN

Có lẽ trong lịch sử bóng đá thế giới, hiếm có trường hợp nào éo le như Messi. 

Anh là cầu thủ xuất sắc nhất thế giới hiện nay, đoạt giải Quả bóng vàng hai năm liên tiếp (2009, 2010), và nhiều khả năng cuối năm nay anh tiếp tục nhận Quả bóng vàng thứ ba sau những màn trình diễn tuyệt vời suốt mùa bóng vừa qua trong màu áo Barcelona. Nếu vậy, anh sẽ là cầu thủ thứ hai nhận Quả bóng vàng ba năm liên tục, sau danh thủ Platini (1983,1984,1985). Johan Cruyff (1971,1973, 1974) Marco van Basten (1988, 1989, 1992) cũng từng đoạt 3 Quả bóng vàng nhưng bị ngắt quãng. 

Đọat 3 Quả bóng vàng liên tiếp, Messi sẽ sánh ngang kỷ lục của Platini, nhưng danh hiệu Quả bóng vàng trong thời điểm hiện tại rõ ràng có giá trị cao hơn danh hiệu Quả bóng vàng ở thập niên 80 thế kỷ trước. Thời Platini còn chơi bóng, ông có một đối thủ đáng sợ là Maradona. Cả hai có thời gian cùng chơi ở giải Ý: Platini chơi cho Juventus, Maradona khoác áo Napoli. Đó là chưa kể những đối thủ sừng sỏ khác như Zico, Falcao, Socrates của Brazil. Nhưng trong giai đoạn đó, Quả bóng vàng châu Âu chỉ trao cho những cầu thủ châu Âu, không xét đến các cầu thủ Nam Mỹ và các châu lục khác dù họ vẫn chơi bóng cho các câu lạc bộ của lục địa già. Nếu giải thưởng Quả bóng vàng được mở rộng ra như hiện nay, tức là không hạn chế quốc tịch, chắc chắn Platini không thể nào đoạt giải thưởng cao quý này 3 năm liên tục. (Bắt đầu từ năm 1995, giải thưởng Quả bóng vàng được cải tiến theo hướng mở rộng và ngay lập tức danh hiệu đó thuộc về George Weah, cầu thủ Liberia đang khoác áo AC Milan. Nếu chỉ xét các cầu thủ quốc tịch châu Âu như thời Platini, Quả bóng vàng 1995 sẽ thuộc về tiền đạo người Đức Jurgen Klinsmann, người về nhì trong cuộc bầu chọn).

Nếu chúng ta thừa nhận rằng hầu hết các ngôi sao bóng đá thế giới đều chơi bóng ở châu Âu thì cầu thủ đoạt Quả bóng vàng châu Âu hiện nay là cũng là cầu thủ xuất sắc nhất thế giới (Thời Platini, thực tế ông chỉ là cầu thủ xuất sắc nhất châu Âu. So sánh tầm vóc giữa Platini và cầu thủ cùng thời Maradona thì rõ!). Quan điểm này càng được củng cố về phương diện pháp lý khi bắt đầu từ năm 2010 hai giải thưởng danh giá Quả bóng vàng Châu Âu và Cầu thủ xuất sắc nhất năm của FIFA đã được hợp nhất thành Quả bóng vàng FIFA và dĩ nhiên cầu thủ đầu tiên nhận danh hiệu “tầm cỡ thế giới” này là Lionel Messi. 

 Danh hiệu là chuyện nói thêm vào, như kiểu dùng chứng cứ củng cố cho lập luận, chứ thực ra không cần những con số thống kê, chỉ quan sát bằng nhãn quan của “người phàm mắt thịt” thôi, bất cứ tín đồ bóng đá nào cũng dễ dàng nhận thấy Lionel Messi là cầu thủ xuất sắc nhất hiện nay, là cầu thủ chơi bóng ma thuật nhất, được chờ đợi nhất và được yêu mến nhất, trừ... dân Argentina.

Tình cảnh oái oăm này xuất phát từ chỗ thiên tài người Argentina này chưa bao giờ giúp đội tuyển quốc gia của anh giành được một danh hiệu lớn nào, ngoài vài danh hiệu “be bé” như vô địch thế giới lứa tuổi U-20 (2005) và vô địch giải bóng đá Olympic (2008). Tất nhiên, trên thế giới có không ít cầu thủ chơi rất hay trong màu áo câu lạc bộ nhưng khi về khoác áo đội tuyển quốc gia lại thi đấu không hiệu quả. Cristiano Ronaldo của tuyển Bồ Đào Nha là một ví dụ sống động cho trường hợp này.

Nhưng Ronaldo không bị dân Bồ phê phán dữ dội như dân Argentina lên án Messi. Thậm chí có cổ động viên cực đoan còn xông vào hành hung Messi khi anh về Argentina chuẩn bị cho cúp Nam Mỹ 2011. Thăm dò ý kiến dân Argentina, tình cảm người hâm mộ quê nhà dành cho Messi rất thấp, thậm chí số phiếu của anh còn kém một vài... trọng tài.

 Có nhiều lý do cắt nghĩa cho thái độ quá khích này. Khác với Bồ Đào Nha, Argentina là một cường quốc bóng đá, đã hai lần vô địch thế giới. Cùng với Brazil, họ là một trong hai “ông trùm” bóng đá Nam Mỹ và luôn luôn kèn cựa, so đo với người láng giềng hùng mạnh của mình.Về phương diện cá nhân, nếu Brazil tự hào với Pele thì người Argentina hãnh diện với Maradona - thánh sống của họ. Nhưng so thành tích đội tuyển thì họ bị Brazil bỏ quá xa khi đội tuyển vàng xanh đã vô địch thế giới tới 5 lần. Để thu ngắn khoảng cách này, bây giờ họ chỉ biết trông chờ vào Messi nhưng anh lại chưa thể giúp đất nước mình lên ngôi một lần nào. Các nhà chuyên môn đều thấy lỗi không nằm ở Messi: hệ thống chiến thuật của Barcelona và Argentina quá khác nhau khiến tài năng của anh không thể phát huy đến mức cao nhất khi chơi cho đội tuyển. Chưa kể phương diện con người: đồng đội của anh ở đội tuyển cũng không có những cá nhân kiệt xuất như Xavi hay Iniesta.

Nhưng dân Argentina không đếm xỉa đến thực tế đó. Thất vọng dẫn đến bực tức, người ta quy kết anh chỉ dốc sức phục vụ cho Barcelona mà không hết lòng phụng sự đội tuyển. Rằng anh không coi danh dự quốc gia ra gì, chỉ chăm chăm đá bóng vì tiền, vân vân và vân vân. Người ta lôi lý lịch anh ra: Mười ba tuổi đã chuyển cả gia đình sang sống ở Tây Ban Nha với sự bảo trợ của câu lạc bộ Barcelona. Vin vào cớ đó, người ta bảo dòng máu Argentina trong anh đã nhạt, bây giờ anh là người Tây Ban Nha mất rồi(!) . Khi chì chiết Messi như vậy, người ta quên rằng anh gặp vấn đề với hormone tăng trưởng vào năm 10 tuổi và lúc đó không một câu lạc bộ nào ở Argentina chịu bỏ kinh phí chữa trị cho anh, cho đến khi Barcelona ngỏ lời. Và thực tế thì nếu không có Barcelona thì đã không có Messi như ngày nay.



"Làm sao đây?"

 Nhưng bây giờ không phải là lúc ngồi nói lý, nhất là nói lý với đám đông. Để rửa nỗi oan cho mình, để bước qua lời nguyền của số phận, Messi phải bằng mọi giá đưa đội tuyển Argentina ít ra là đến chức vô địch Nam Mỹ 2011 được tổ chức trên sân nhà. Chỉ có cách đó anh mới “bịt miệng” được những kẻ chỉ trích mình.

Sunday, August 7, 2011

7 STEPS LEARNING ENGLISH

There're lots of ways & method help people learning English or language on the world, this topic will always make professional English research nonstop. For me there is 7 basic steps to learn English that people can study by themself.
Imazing you are in the restaurant and you have to follow these steps :


Step 1 : Read the menupeople should practice reading skill when you have the menu or the other can read. this is reading skill.    

Step 2 : Oder a meal and ask the waiter or waitress advicewith this step people will improve speaking skill.
Step 3 : Understand waiter advicefor example when a waiter says : would you like small or medium size ? and you have to answer. It's  helpful for your listening.

Step 4 : Understand friend and waiter chattingthis step want you try to listen whatever your friend and the waiter talking when you are in the restaurant

Step 5 : Chat with waiter or waitress in simple topicsimple topic can be : weather, movies, food, .....people have enough confident  when talking with the waiter  

Friday, August 5, 2011

MALDINI HẬU VỆ XUẤT SẮC MỌI THỜI ĐẠI


Huy chương và cup


Tôi không phải là một người chỉ đánh giá các cầu thủ bởi những gì anh ta dành được. Nhiều cầu thủ trung bình nhưng có mọi danh hiệu.
Một ví dụ là Christian Karembeu, người vô địch World Cup và Euro cùng Pháp cũng như vô địch Champions League cùng Real Madrid. Trong khi đó, một số ngôi sao rực rỡ lại bỏ lỡ một đó danh hiệu lớn nhất, nhưng trường hợp của Roberto Baggio.
Dù vậy, những phần thưởng cùng đội bóng vẫn là một tiêu chí quan trọng để đánh giá, và trong sự nghiệp lừng lẫy của mình, Maldini dành 7 Scudetto, 1 Coppa Italy, 5 Italian Super Cups, 5 danh hiệu Champions League titles, 5 European Super Cups và 3 World Club Cups.
Về giải thưởng cá nhân, đáng tiếc là Maldini chưa từng dành danh hiệu Quả bóng vàng châu Âu hay Cầu thủ xuất sắc nhất thế giới. Tuy nhiên căn cứ vào cái cách bầu chọn của hai giải thưởng này, điều đó cũng không quá ngạc nhiên.
Trong số rất nhiều kỉ lục Maldini đã tạo lập với Milan, anh là người thi đấu nhiều nhất cho họ và cũng là cầu thủ nhiều tuổi nhất từng ghi bàn ở một trận chung kết.

Sự nghiệp quốc tế
Một vài cầu thủ thi đấu rất tốt ở CLB nhưng vì một vài lí do, họ không thể gặt hái thành công ở cấp độ đội tuyển. Hai cái tên tôi nghĩ đến ngay là Gianni Rivera và Alessandro Del Piero.
Maldini thì khác, anh thi đấu tốt cho cả Italy và Milan. Anh là người đep băng đội trưởng lâu nhất, ra sân nhiều nhất. Hậu vệ này đã chơi 4 World Cup và 3 Euro. Cho dù may mắn luôn lẩn tránh anh, khi anh hai lần thua cuộc ở hai trận chung kết lớn, World cup 94 trước Brazil và trận thua xót xa tại Euro 2000 trước Pháp. Nếu chiến thắng trong cả hai trận đấu đó, chắc chắn, anh sẽ có một sự nghiệp vô cùng hoàn hảo.
Có lẽ một chi tiết nhỏ hơn trong 14 năm thi đấu cho Italy cũng đủ để tạo ra sự khác biệt của anh. Maldini ra mắt cho Azzurri khi vẫn còn là một cậu bé, một điều cực hiếm ở Italy, khi các cầu thủ thường không có cơ hội cho đến khi họ 25, 26 tuổi.
Khi mới 19 tuổi, anh là một phát hiện ở Euro 88, và không thể phủ nhận anh chính là hậu vệ cánh xuất sắc nhất giải đó. Anh bắt chết ngôi sao Michel của Tây Ban Nha trong trận đấu ở nhóm thứ hai, một kỉ niệm đáng nhớ. Anh có tên trong đội hình của UEFA trong 3 kì Euro, 88, 96, 2000.
Roberto Baggio vẫn được tin là đã đơn thương độc mã đưa Italy đến chung kết USA 94. Có lẽ đó là một khẳng định hợp lí, nhưng cũng cần phải nhớ Maldini đã chỉ huy hàng phòng ngự như thế nào khi huyền thoại Franco Baresi vắng mặt 4 trận vì chấn thương.
Sự nghiệp của Maldini là một giai thoại. Thật thú vị khi biết rằng anh nâng chiếc cup Champions League tại Old Trafford năm 2003, 40 năm sau khi cha anh làm điều tương tự cho Milan tại Wembley.

Một sự nghiệp lâu dài

Một thước đo nữa về sự xuất sắc đối với một cầu thủ bóng đá là thời gain họ chơi bóng đỉnh cao.
Một vài cầu thủ chơi tuyệt vời trong một vài mùa giải nhưng ở các mùa giải khác, họ không còn là chính mình. Đó chính là sự khác biệt giữa những huyền thoại mọi thời đại với những cầu thủ trên, họ có thể giữ phong độ đỉnh cao không chỉ 3 hay 5 năm, mà từ 7 đến 10 năm.
Maldini còn hơn thế. Từ khi chơi bóng cho Milan vào tháng 1 năm 1985, anh đã chơi bóng đỉnh cao ở châu Âu gần một phần tư thế kỉ. Nếu điều đó không đáng nhớ, thì trong suốt thời gian đó, anh luôn luôn giữ vững được đẳng cấp phi thường của mình. Ở tuổi gần 40, anh vẫn là cầu thủ xuất sắc nhất trận đấu lượt đi của Milan tại Champions League gặp Arsenal. Trong trận lượt về tại San Siro, anh là một trong số ít các cầu thủ của Milan chơi tốt. Sau trận đấu, tiền đạo Emmanuel Adebayor cho rằng Maldini vẫn ở đẳng cấp thế giới.
Về điểm này, nó là của riêng Maldini. Có lẽ sẽ không có một cầu thủ nào có thể kéo dài sự nghiệp của mình ở đẳng cấp như vậy. Lotthar Matthaus là người gần nhất làm được điều tương tự.
Maldini đã trải qua 3 giai đoạn hưng thịnh của Milan trong các thập kỉ khác nhau. Milan của Arrigo Sacchi cuối những năm 1980, Milan của Fabio Capello nửa đầu thập kỉ 90 và cuối cùng là đội bóng của Carlo Ancelotti, đội bóng đã quá thành công tại Champions League từ 2003. Đế chế đỏ đen dưới thời Sacchi bao gồm bộ ba Hà Lan, Van Basten, Rijkaard và Gullit được xem như đội bóng cấp câu lạc bộ xuất sắc nhất mọi thời đại. Và Mauro Tassotti, Alessandro Costacurta, Baresi, Maldini được cho là bộ tứ vệ xuất sắc nhất.

Một con người tuyệt vời cả trong và ngoài sân cỏ.

Các bạn có lẽ cho rằng các hậu vệ Italy không fair-play. Milan có thể luôn luôn sản sinh ra những hậu vệ xuất sắc trên thế giới nhưng nhiều người thường chơi rắn trong các trận đấu.
Tất nhiên, đó là một khía cạnh quan trọng trong nghệ thuật phòng ngự, mặc dù không phải tất cả các nên văn hóa đặc biệt và Anh Quốc và Bắc Âu đánh giá cao điều đó. Maldini trở thành cầu thủ xuất sắc nhất với những gì anh đã làm mà không hề dùng những tiểu xảo bẩn thỉu, và với lí do này, anh được yêu mến ở mọi nơi.
Không thể tìm được một người ở bất cứ nơi nào trên thế giới chỉ trích Maldini, dù chỉ một lời. Anh nhận được sự tôn trọng ở mọi nơi anh đến và được cả những cđv đối thủ yêu mến. Khi Maldini tới để thực hiện pha ném biên trong trận lượt đi tại Champions League, bạn không thể thấy bất cứ một fan của Arsenal nào nhạo báng, la ó anh. Điều trái ngược xảy ra chỉ vài phút sau đó, khi Massimo Ambrosini ra lấy bóng.
Mặc dù thực sự là một siêu sao, Maldini luôn giữ được sự khiêm tốn. Anh là cầu thủ xuất sắc nhất với những gì anh làm nhưng không thích hào nhoáng, sự lăng xê, anh không bộc lộ với quần chúng tài năng của mình. Anh là nhà vô địch trong và ngoài sân cỏ.
Maldini từng nói:
"Cha tôi truyền cho tôi biết cách cư sử đúng mực trong và ngoài sân cỏ."
Vào thời buổi, những cầu thủ trung thành với một clb ngày càng hiếm hoi, Maldini đã cống hiến trọng sự nghiệp cầu thủ cho Milan, trong nhiều năm là một đội trưởng mẫu mực của Milan và cả Azzurri nữa.
Đơn giản, anh là hậu vệ hoàn hảo. Cựu đồng đội, Ray Wikins từng phát biểu: "Anh ta có thể chơi ở bất kì vị trí nào."
"Ngay khi tôi thấy anh, tôi nghĩ ràng, lạy chúa, cậu bé này có mọi thứ. Anh ta mới 16 tuổi, cao 6ft1in, nhanh và mạnh mẽ, thuận cả hai chân. Và anh ta có tình yêu với bóng đá, điều mà mọi người vẫn có thể thấy vào lúc này. Anh là một đội trưởng hoàn hảo, một con người tuyệt vời cũng như là một cầu thủ phi thường."
Có nhiều hậu vệ xuất sắc trong quá khứ, nhiều người xứng đáng được gọi là huyền thoại, bao gồm Franco Baresi, Giacinto Facchetti, Gateano Scirea, Franz Beckenbauer, Paul Breitner, Nilton Santos, Djalma Santos và Bobby Moore.
Lẽ tất nhiên, Maldini nằm trong số đó. Câu hỏi duy nhất là anh có phải là người xuất sắc nhất hay không mà thôi.

Demetrio Albertini : Signore của hàng tiền vệ

Demetrio Albertini đã trở thành một VIP trong hàng tiền vệ của Milan từ lâu rồi. Và từ 10 năm nay, các Milanista biết đến anh như một thủ lĩnh của đội bóng bởi sự cần cù, chăm chỉ, lối chơi rất tinh tế nhưng uyển chuyển như một quý ông và khi cần thì cũng hung dữ, lanh lợi như một con sói. "Tôi không thích được coi là một người quan trọng bởi cả đội bóng mới thực sự là một ngôi sao", trước những lời khen ngợi tới tấp, 10 năm qua, bao giờ Albertini cũng chống chế một cách yếu ớt như thế. Tôi nghĩ rằng mình thực sự cần thiết cho đội bóng và tôi chỉ làm những gì thực sự thiết thực. Nhưng tất cả các HLV trong những năm qua của Milan cũng như của Squadra Azzurra không bao giờ nghĩ thế. Chưa bao giờ anh bị gạt ra trong số những kế hoạch dài hạn của họ. Và họ biết họ cần điều gì nơi anh...


10 năm trước, Demetrio mới trở về Milan sau một hành trình dài ở Padova, CLB đang chơi ở Serie A đã mượn anh chơi trong suốt hai mùa giải và HLV Sacchi đáng kính không bao giờ rời mắt khỏi anh. "Ban đầu rất nhiều thành viên ban lãnh đạo không muốn tôi trở về. Họ cho rằng tôi còn quá trẻ để thay thế cho vai trò của Ancelotti. Nhưng Arrigo đã bảo vệ được quan điểm của mình và tôi rất biết ơn ông ấy vì những gì ông đã giành cho tôi". Trận đấu đầu tiên của anh trong màu áo sọc đỏ-đen là một thành công ngoài dự kiến. Đó là trận đấu với Ascoli tháng 9 năm 1991”, Sacchi sau này nhớ lại: "Cậu ta gần như phát ngất khi khi bước ra khỏi đường hầm nhưng đã lấy lại được sự bình tĩnh và chơi một trận không thể tưởng tượng được ở tuổi 20. Thật khó tin. Cậu ta là một trong số những người chơi hay nhất và các CĐV ở San Siro còn bắt cậu ta phải ra chào khi trận đấu đã kết thúc". Sacchi không có nhiều cơ hội để được xem đệ tử của mình tung hoành trong màu áo Milan nữa bởi ông đã ra đi trước khi Albertini được chấp thuận trở lại đây, nhưng ông luôn luôn nhận ra khả năng cầm trịch và đạo diễn trận đấu tài tình của cậu bé và ngay lập tức cho Demetrio khoác chiếc áo màu xanh của đội tuyển trong trận Italia-Síp vào năm 1992. Và sự ưu ái của ông đối với anh không phải là không có lý. Chua bao giờ anh làm mọi người thất vọng bởi khả năng của mình. Tôi rất thích phong cách của Ancelotti (lúc này là HLV ở Juventus). Đấy là người có ảnh hưởng lớn nhất lên phong cách của tôi sau này. Thực tế, chính Ancelotti là người sản sinh ra trường phái tiền vệ phòng ngự nổi tiếng mang tên ông và Albertini là người học trò tinh tế nhất.



Sự thăng tiến chóng mặt của Albertini đã gây ra biết bao phiền toái. Đội tuyển U21 nhất định không cho anh lên đội tuyển A vì họ cần anh cho một vài cuộc chinh phục nữa, và viện cớ là anh còn quá trẻ để thi đấu ở đội tuyển. Ông HLV của đội tuyển quân đội còn độc chiêu hơn. Ông phát đơn kiện Sacchi vì cho rằng, ông này đã làm mọi cách để Albertini được miễn nghĩa vụ quân sự và vì thế không có mặt ở đội tuyển quân đội. Chính phủ phải vào cuộc và bảo vệ quyết định của Sacchi. Đây là một trường hợp độc nhất vô nhị trong bóng đá Italia. Và vì những tấm lòng như thế, Albertini quyết tâm vươn lên không ngừng. Trong 10 năm qua, anh là nhân vật không thể thiếu được ở cả CLB và ĐTQG và những sự vắng mặt cũng như sa sút của anh đều trực tiếp ảnh hưởng không nhỏ đến đội bóng và những chấn thương hay đau ốm của anh luôn được các cổ động viên cầu cho chóng qua. Đã có những thời điểm anh xuống phong đội chưa từng thấy, thậm chí bị gạt khỏi đội hình chính thức của CLB và ĐTQG. "Tôi luôn ngẫm nghĩ đến những thất bại mình đã trải qua, đến những gì ở phía trước và tôi không không bao giờ chịu đầu hàng trước hoàn cảnh nào", anh tâm sự. Anh đã trở lại chói sáng ở EURO 2000 như đã từn thể hiện một năm trước đây đoạt Scudetto với Milan. Con đường sự nghiệp của anh vẫn còn dài lắm và Milan vẫn trông chờ vào tài năng của tiền vệ lão luyện này. "Tôi chưa bao giờ nghĩ đến chuyện rời Milan đi bất cứ đâu. Đây là gia đình tôi, mái ấm của tôi và tôi muốn kết thúc sự nghiệp ở đây", anh nói. Như Baresi đã làm và như Maldini hứa sẽ thực hiện.

  • LÝ LỊCH ALBERTINI :
SINH NGÀY : 23-8-1971

1988–2002Milan

1990–1991→ Padova (loan)

2002–2003Atlético Madrid

2003–2004Lazio

2004Atalanta

2005  BARCA

Sunday, July 31, 2011

Shevchenko – Chú sơn dương cô đơn tại San Siro


Năm 1999, bỏ lại sau lưng một mùa bóng đầy thành công ở Dynamo Kyiv, chàng trai trẻ Andriy Shevchenko đến với AC Milan với hợp đồng có giá trị lên đến 25 triệu đô la. Ở Milan khi ấy, Shevchenko như là chiếc phao cứu sinh cho những mùa giải thất bát liên tiếp. Không để người hâm mộ đợi lâu, bằng những bước chạy thần sầu và những cú sút hóc hiểm mang nhãn hiệu Shevchenko, ngay mùa giải đầu tiên mặc dù ACM không dành được danh hiệu Scudetto nhưng anh đã cho thấy mình xứng đáng với số tiền chuyển nhượng khổng lồ ấy bằng 1 danh hiệu vua phá lưới mùa giải 1999-2000 với 23 bàn thắng. Và từ đó biệt danh “Chú sơn dương” đã gắn liền với tên tuổi chàng tiền đạo người Ukrainia.


Thời gian cứ thấm thoát thoi đưa. Số phận rồi cũng mỉm cười với những con người biết kiên nhẫn chờ đợi; ACM với đôi chân chú sơn dương đã đi hết thắng lợi này đến thắng lợi khác. Sự nghiệp của Shevchenko đã nhanh chóng thăng tiến, người ta lại bắt đầu quên biệt danh chú sơn dương và gán những cái tên mỹ miều nhưng sáo rỗng khác “Sheva”, “Mr7”, “No7”, “Hoàng tử Phương Đông” cho chàng tiền đạo này. Mặc dù rất rất chuyên nghiệp nhưng Shevchenko cũng cảm thấy lâng lâng trong cuộc sống sặc mùi háo danh của bọn nhà báo và leng keng tiếng đồng lia của ngài Chủ tịch. Anh vẫn tập luyện và thi đấu tốt, nhưng thái độ trên sân và trong các cuộc họp báo đã khác, Milan bây giờ là Milan – Sheva.

Rồi cái hạnh phúc của đôi hôn phối Milan – Sheva ấy cũng đến lúc tan vỡ nó đánh dấu bằng 1 thất bại không thể tệ hơn của đoàn binh đỏ - đen ở Istabul. Sau Lễ trao giải Quả bóng vàng mùa bóng 2004 – 2005 anh đã ngỡ chiếc áo đấu đỏ đen đã không còn vừa với mình, mà trong cuộc sống người ta cứ thường ngỡ những việc mình không hiểu nhất. Anh bắt đầu mong muốn được ra đi để hòa mình vào dàn sao đang lên của Chelsea, để mong được gặt hái thêm nhiều chiến công nhằm tô điểm thêm bảng thành tích với dài dằng dặc của mình, để thỏa cái ước mơ được du nhập vào cuộc sống thượng lưu Anh của cô vợ và những đứa con. Ngày anh đi, San Siro bỗng trở nên mênh mông trống trãi, khán giả không còn đồng điệu khi gọi tên một ai đó để động viên đội bóng, sân tập thiếu vắng bước chân thoăng thoắng của chú sơn dương, các đồng đội hình như đã ít cười đùa hơn, Kaka bỗng thấy mình lạc lõng khi mất đi người đồng đội ăn ý trên sân đấu, Inzaghi phải di chuyển nhiều hơn để có được những bàn thắng. Người ta cuống cuồng tìm một số 7 nào đó để lấp vào khoảng trống mênh mông ấy nhưng vô vọng, sẽ mãi mãi không còn một số 7 nào có bước chân của sơn dương ở San Siro nũa. Berlusconi và AC Milan dù gặp nhiều khó khăn nhưng vẫn để anh ra đi như ước nguyện của chính anh và cầu mong anh thành công. Và người được mọi người trông đợi để gánh vác đội bóng khi đó là Kaka.

Dòng đời cứ trôi, ACM đã lặn ngụp trong vũng lầy “Calciopoli” rồi vươn đến đỉnh cao ở Athens với chiếc cúp CL năm 2007. Kaka cũng vậy, anh ấy đã ở lại ACM trong khốn khó bất chấp sự chèo khéo của các CLB lớn và vươn đến đỉnh cao bằng hattrick danh hiệu danh giá cầu thủ xuất sắc nhất năm 2007. Giờ đây ACM là ACM của Kaka. Shevchenko ở Chelsea thì sao? Anh đến Stamford Bridge trong sự mong mỏi lớn của ông chủ Abramovic nhưng đó lại không phải là chọn lựa của Ngài đặc biệt. Ở Chelsea về chuyên môn sẽ không có ai vượt được quyền của Mourinho, một tài năng thật sự ở băng ghế chỉ đạo. Anh trở thành rào cản rồi trở thành sự bất đồng lớn chia cách 2 cá tính lớn nhất Chelsea. Anh bị các đồng đội mới chỉ đích danh là lý do mà họ phải chia tay người huấn luyện viên tài ba của mình. Anh thẫn thờ trong mỗi lần ra sân vì cái cách mà đồng đội chuyền bóng cho mình, anh ít tiếng nhẫn nhịn trong sinh hoạt và tập luyện, anh cười gượng trong cay đắng khi J. Mourinho ra đi. Đã quá bất công đối với Chú sơn dương, anh ta đâu có lỗi gì trong việc Abramovic hâm mộ và đối xử quá hào phóng với anh ta. Shevchenko nhớ nhà, nhớ những tiếng reo hò của các Rossoneri trên khán đài, nhớ những đường chuyền bóng dọn cỗ của Kaka, nhớ phải di chuyển như thế nào khi Pirlo thực hiện quả đá phạt, nhớ Inzaghi ở đâu khi anh cầm bóng, nhớ cả từng ngọn cỏ trên sân San Siro, nhớ con đường hun hút toàn màu đỏ đen từ phòng kỹ thuật ra sân đấu San Siro. Shevchenko thèm được ôm những đồng đội chúc mừng sau mỗi bàn thắng (ngay cả trên sân tập), thèm được ngồi uống 1 ly bia và nói tiếng Ý (chứ không phải thứ tiếng Anh mà cô vợ anh đã từng hết lời tung hô) với những người bạn - những người mộ ACM ở quán bar nhỏ nào đó ở thành phố Milano, thèm được khoát lại chiếc ào màu đỏ đen với số 7 quen thuộc, anh thèm về nhà. Berlusconi cũng nhớ anh, ông ấy thèm được thấy chú sơn dương ngày nào dẫm nát từng sân đấu Serie A, ông ấy muốn chứng minh “Berlusconi không bao giờ phản bội lại tình cảm của ai”, ông ấy muốn khẳng định “ACM, nước Ý hay bất cứ thứ gì trong tay tôi sẽ chiến thắng. Tôi muốn là được”. Và ông đã dành rất nhiều công sức (có lẽ còn hơn cả công sức cho vụ chuyển nhượng Ronaldinho) để thuyết phục tỷ phú Nga để Shevchenko về nhà.

Mùa hè 2008, chú Sơn dương về nhà trong một bản hợp đồng được giữ kín ở thời điểm cuối cùng của mùa chuyển nhượng. Anh sẽ lại được khoát chiếc áo đỏ - đen một thời nhưng không phải là số 7 quen thuộc. Trong thâm tâm Shevchenko nghĩ “Mặc kệ, về nhà là tốt rồi”. Shevchenko háo hức được ra sân tập ngay khi đáp may bay xuống phi trường Milano, nhưng ACM đang thi đấu giao hữu mất rồi. Rồi cái ngày mong đợi cũng đã đến, Shevchenko dậy sớm và chuẩn bị thật hoàn hảo cho buổi tập đầu tiên của mình. Anh đến sân cùng với Kaladze (người bạn thủa thiếu thời) thì Maldini đã ở đó đón anh với cái ôm thật ấm áp, Ancelotti nở nụ cười thật tươi với cái bắt tay thật chặt nhưng đầy tính ngoại giao, anh mong đợi nhiều hơn như vậy, anh đợi Kaka đến để thấy nụ cười thiên thần của người em, anh đợi mọi người sẽ lại vừa thay đồ vừa vui vẻ chọc ghẹo nhau. Nhưng cái mong ước ấy đã không thành sự thật. Người ta đã quen với cuộc sống không có anh, Gattusso đã quen với việc đùa giỡn với Max và Pirlo trên sân tập, Seedorf và Kaka đã hiểu nhau đến từng bước chân trên sân đấu, Maldini bây giờ đã là người đàn ông của gia đình hơn trước nhiều, Costacota đã quen dần với các lớp học HLV chỉ có Kaladze là vẫn vậy, vẫn xoa đầu kéo anh dậy mỗi khi anh ngã. Shevchenko ngờ ngợ nhận ra Kaka giờ đã trưởng thành và gánh vác phần trách nhiệm của nhân vật số 1 tại San Siro rồi và cũng chiếm luôn vị trí người lĩnh lương cao nhất của anh để lại lúc trước. Shevchenko bây giờ mới thấy mình đã già đã quá nặng nề trong từng bước chạy, đã lãng phí cơ hội được bước vào thánh đường của những huyền thoại sống tại Milan. Anh cố gắng quen dần với cuộc sống ấy, một cuộc sống của một cầu thủ bình thường tại ACM. Anh cố gắng hòa nhập một cách thiện chí với các đồng đội trong mọi nơi mọi lúc (ở trên sân đấu, trong phòng thay đồ, trên băng ghế dự bị …), nhưng có lẽ cuộc sống quá tàn nhẫn. Với những lần hiếm hoi được vào sân từ băng ghế dự bị những bước chạy của chú sơn dương vẫn thanh thoát nhưng nó đã lỡ nhịp so với dòng chảy ACM. Kaka đã là ông chủ trên sân và được quyền bắt mọi người chơi theo cách của mình, Pato là một phong cách tiền đạo khác nên chơi quá xa anh, Gattusso và Max chỉ chăm chăm vào việc đánh chặn và chuyền bóng ngay cho Seedorf và Kaka, chỉ có Ronaldinho với bản tính hồn nhiên hoang dã của mình là chú ý đến những bước chân di chuyển khôn ngoan của chú sơn dương mà thôi. Biết làm sao bây giờ, đó là cuộc sống Shevchenko ạ dù gì thì anh cũng được về nhà rồi. Tôi có thể giận dữ vì những gì Kaka đối xử với một người hùng một thời như anh nhưng có bao nhiêu người nghĩ giống như tôi, rất ít. Tôi viết những dòng này để cầu mong anh, chú sơn dương Ukrainia của tôi, với bản lĩnh và ý chí sẽ vượt qua giai đoạn khó khăn này.

Friday, July 29, 2011

AC Milan và chức vô địch thứ 18 sau 7 năm đợi chờ

Vậy là sau 7 năm ròng rã, AC Milan đã trở lại vị thế mà hàng triệu NHM chờ đợi, đó là chức vô địch giải bóng đá cao nhất nước Ý – Serie A! Thành quả ấy là trái ngọt cho những hạt mầm đã được ươm, là chương cuối của sự khẳng định cho những chương đầu đầy hoài nghi, và là biết bao tiếng cười giòn tan của sự giải tỏa cho những lo lắng trong chặng đường dài đầy gian chuân.

Scudetto lần thứ 18 này không chỉ là sự tiếp nối của Scudetto lần thứ 17 đã giành được 7 năm về trước, mà còn mở ra 1 hy vọng mới, và có thể sẽ là 1 chu kỳ thành công mới cho những ai có chung dòng máu đỏ đen chảy trong người. Có lẽ đa phần người yêu Milan đều thấy, để giành được danh hiệu cao quý này, BLĐ Milan đã có những bước đi hợp lý về nhân sự, yếu tố quan trọng bậc nhất trong mọi đội bóng. Đầu mùa, nhờ những khó khăn trong việc thích nghi với các môi trường bóng đá Anh và Tây Ban Nha, những người đứng đầu của đội bóng Đỏ đen đã nhanh tay lấy về 2 ngôi sao của làng bóng đá, đó là Zlatan Ibrahimovic từ Barcelona và Robinho từ Manchester City. Trong những giờ phút cuối của thị trường chuyển nhượng mùa hè 2010, Milan đã làm sửng sốt làng túc cầu với 2 bản HĐ bom tấn nhưng giá cả lại chỉ bằng ½, thậm chí là 1/3 giá trị mà các CLB trên đã đưa họ về. Robinho là 1 tân binh mang lại sự mềm mại cho lối chơi, và thực tế anh cũng giúp cho hàng công thể hiện 1 sức sống mới nhờ kỹ thuật điêu luyện và sự chạy chỗ tinh tế. Nhưng đặc biệt phải nhắc đến vai trò của TĐ người Thụy Điển Ibrahimovic. Đến Milan với vị thế gần như kẻ bị ruồng bỏ, lại ra mắt Milan bằng trận thua Cesena mà chính anh đá hỏng 1 quả phạt đền, đã có không ít người lo lắng cho anh. Nhưng không phải ngẫu nhiên mà người ta gọi anh là “Mr Scudetto”. Kể từ lần phơi áo ngày 11/9 ấy, Zlatan đã trở lại hình ảnh 1 ngôi sao của bóng đá Italia như đã từng như thế trong màu áo Juve cũng như Inter. Ghi bàn nhiều nhất đội ( 14 bàn, bằng Robinho và Pato), mà không ít trong số đó là những kiệt tác, kiến tạo bàn thắng chẳng những nhiều nhất đội mà còn là nhiều nhất Serie A ( 11 lần), Zlatan như kim chỉ nam đưa đội bóng đến thành công. Thế nhưng để có được lần thứ 18 nâng chiếc cúp, anh cũng vẫn đứng sau vai trò của cả 1 tập thể đầy khát khao. Một Thiago Silva đầy mạnh mẽ, một Boateng đa năng và kỳ lạ, một Nesta vẫn giữ được nét hào hoa trong từng pha cản bóng, một Abbiati bay lượn như diễn viên trong những phim hành động hoành tráng nhất của Hollywood. 2 bản hợp đồng giữa mùa cũng là những thành công về chính sách chuyển nhượng của Milan. Van Bommel, đội trưởng tuyển Hà Lan, đội trưởng Hùm xám Bayern Munich bất ngờ đến Milan, và chơi hay cứ như thể muốn chứng tỏ anh chưa hết thời; Cassano cũng đóp góp 1 phần quan trọng cho CLB nhờ những đường kiến tạo sắc như dao của mình. Cũng không thể quên vai trò của những cựu binh như Seedorf, Ambrosini, Pirlo dù đóng góp của họ là khá hạn chế. 



Trong năm thứ 25 của triều đại Berlusconi, năm đầu tiên dưới sự dẫn dắt của Max Allegri, Milan đã mang lại niềm vui mà 7 năm qua đã dời xa NHM. Một chức vô địch của lòng khát khao mạnh liệt, của sự khiêm tốn, của những con người cùng chung chí hướng. Một danh hiệu đẹp, vô cùng đẹp. Đẹp như nụ cười “hom hem” của lão tướng Inzaghi, như những pha ghi bàn làm trào dâng bao xúc cảm của Ibra, và như điệu nhảy “Moonwalk” sành điệu của “Hoàng tử” Kevin… 

AC Milan, nỗi nhớ Albertosi


AC Milan, nỗi nhớ Albertosi

Sau thời Albertosi, Milan chẳng còn thủ môn nào từng được đứng trong khung gỗ Azzurri, chứ chưa nói là giữ vị trí chính thức ở cà đội tuyển lẫn CLB.
Đã lâu lắm rồi Milan không có một thủ môn vừa bắt chính trong màu áo CLB, vừa là người gác đền chính ở ĐT Italia. Thậm chí, cũng hiếm có một thủ môn chơi cho Milan  nhưng từng có quãng thời gian "đeo găng" Azzurri (dự bị cũng được).

Người gần nhất là Albertosi. Thủ thành  sinh năm 1939 này đầu quân cho Milan từ năm 1974-1980. Trong thời gian này, anh không một lần được phục vụ ĐTQG. Nhưng trước đó, Albertosi từng là người gác đền số 1 của ĐT Italia. Tại World Cup 1962, 1974, Albertosi có tên trong danh sách ĐT Italia nhưng chỉ ngồi dự bị. Tại EURO 1968, dù giành chức vô địch cùng Azzurri nhưng Albertosi cũng chỉ là lựa chọn thứ hai sau Dino Zoff.
Tuy nhiên, Albertosi là thủ thành số 1 của Italia ở World Cup 1970, giải đấu mà Italia giành ngôi Á quân sau khi thua Brazil trong trận chung kết. Màn trình diễn đáng nhớ nhất của Albertosi là trong trận bán kết thắng Đức 4-3 (trận đấu được đánh giá là hay nhất thế kỷ 20). Dù bị thủng lưới 3 bàn nhưng Albertosi vẫn được khen ngợi vì một loạt pha cứu thua xuất sắc.

Sau đó Milan chẳng còn thủ môn nào từng được bắt cho ĐTQG, chứ chưa dám nói đến giữ vị trí chính thức ở cả CLB lẫn đội tuyển.
Trong thời kỳ hoàng kim ở những năm đầu thập niên 90, thủ môn số 1 của Rossoneri là Sebastiano Rossi. Dù giành 5 Scudetto cùng Milan nhưng trong cả sự nghiệp, S.Rossi không một lần được khoác áo Thiên Thanh.
Từ đầu thiên niên kỷ mới, Dida bắt chính ở Milan, từng được đánh giá là thủ môn hàng đầu thế giới nhưng anh lại khoác áo ĐT Brazil.

Đến mùa trước, Abbiati là một trong những thủ thành bắt hay nhất ở Serie A nhưng anh chưa bao giờ được đánh giá cao ở cấp độ đội tuyển. Đã 34 tuổi, bây giờ Abbiati càng không còn cơ hội được trọng dụng ở Azzurri.